Loading...
Chào mừng bạn đến với Website Bệnh Viện Sản nhi Nghệ An

Nhiễm virus hợp bào hô hấp ở trẻ em

Hiện nay, tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An nhiều trẻ đến khám và điều trị vì triệu chứng đường hô hấp (ho, hắt hơi, sổ mũi, khó thở,…) do virus hợp bào hô hấp.

 

Virus hợp bào hô hấp (Respiratory Syncytial Virus - RSV) thuộc giống Orthopneumovirus, họ Pneumoviridae và bộ Mononegavirales, là căn nguyên hàng đầu gây bệnh ở trẻ nhỏ và cũng là căn nguyên phổ biến toàn cầu gây ra các nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở mọi nhóm tuổi.

Virus RSV gây bệnh và bùng phát mạnh vào mùa đông xuân và khi thời tiết chuyển từ mùa xuân sang hè.

 

Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, RSV có thể gây ra viêm tiểu phế quản nặng và có thể dẫn tới tử vong. Ở trẻ lớn hơn và người lớn không mắc bệnh lý nền hay các yếu tố nguy cơ, RSV thường gây nhiễm trùng đường hô hấp trên lặp đi lặp lại. Tỉ lệ nhập viện do bệnh diễn biến nặng gặp cao nhất ở trẻ em dưới 1 tuổi.

 

Đường lây truyền: 

Cũng giống như nhiều virus gây bệnh đường hô hấp khác, RSV có thể lây truyền từ người bệnh sang người lành thông qua: Giọt bắn có chứa virus RSV được thải ra từ người bệnh qua ho, hắt hơi lên mắt, mũi, miệng, tiếp xúc gián tiếp với các bề mặt bị nhiễm bẩn có chứa virus hoặc quần áo, vật dụng của người bị bệnh, bàn tay người bệnh sau đó đưa lên mắt, mũi, miệng, tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của người nhiễm RSV thông qua thơm hôn hoặc mớm thức ăn...

Các triệu chứng nhiễm RSV có thể giống cảm lạnh trong 1-3 ngày đầu, tuy nhiên bệnh có thể tiến triển nặng hơn sau vài ngày. Biểu hiện lâm sàng hay gặp sau nhiễm RSV là chảy nước mũi trong, hắt hơi, ho, sốt nhẹ, thở khò khè,... Các triệu chứng trên xuất hiện theo từng giai đoạn bệnh chứ không đến cùng một lúc và có xu hướng nặng dần. Biểu hiện lâm sàng nhiễm RSV rầm rộ vào khoảng ngày thứ 5 của bệnh và thường cải thiện sau 7-10 ngày. Tuy nhiên, cơn ho có thể kéo dài khoảng 4 tuần do sự phục hồi chậm của các tế bào có lông mao.

 

Virus RSV gây chảy nước mũi liên tục, ho, hắt hơi, sốt, khó thở, thở khò khè, viêm họng hoặc suy hô hấp ở trẻ nhỏ

 

Trẻ sinh non nhiễm RSV có thể bú kém, ngưng thở, khó chịu hoặc hôn mê. Tỉ lệ ngưng thở có thể lên đến 20% ở những trẻ sơ sinh nhập viện, chủ yếu là trẻ sơ sinh thiếu tháng và non tháng.

Trẻ nhỏ thường có biểu hiện chảy nước mũi liên tục, ho, hắt hơi, sốt, khó thở, thở khò khè, viêm họng hoặc suy hô hấp. Ho và thở khò khè xảy ra ở 50% trẻ em bị nhiễm bệnh.

Trẻ lớn hơn và người lớn có các triệu chứng cảm lạnh điển hình như nghẹt mũi, ho và sốt. Thở khò khè và chảy nước mũi liên tục thường gặp ở người lớn nhiễm RSV.

 

Trẻ nhiễm RSV có nguy cơ bệnh tiến triển nặng:

Trẻ sinh non, trẻ sơ sinh (dưới 6 tháng tuổi), trẻ nhỏ dưới 2 tuổi mắc bệnh tim hoặc phổi bẩm sinh, trẻ em bị suy giảm hệ miễn dịch. Các biến chứng của virus hợp bào hô hấp bao gồm: viêm phổi, viêm tai giữa, bệnh hen suyễn. Một số biến chứng nghiêm trọng, nguy hiểm khác về đường hô hấp như xẹp phổi, tràn khí màng phổi, ứ khí phổi…

Chẩn đoán nhiễm RSV gồm: Xét nghiệm test nhanh phát hiện kháng nguyên và xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Xét nghiệm kháng nguyên nhanh chóng, rẻ tiền, đặc hiệu và dễ dàng thực hiện trên dịch tiết mũi. Tuy nhiên, độ nhạy chỉ khoảng 80% khi bùng phát RSV. Xét nghiệm PCR tỷ lệ nhạy cao hơn tuy nhiên chi phí cao hơn.

Tại Việt Nam, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với nhiễm trùng do RSV, hiện nay vẫn áp dụng các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ và điều trị các biến chứng (nếu có).

Điều trị triệu chứng và điều trị hỗ trợ: Hạ sốt bằng các thuốc acetaminophen hoặc ibuprofen khi trẻ sốt trên 38.5 độ C; bổ sung đủ nước cho trẻ qua ăn, uống và truyền dịch (trong trường hợp trẻ không ăn uống được), ngăn ngừa tình trạng mất nước và tránh sự quánh đặc của đờm, giảm sự bít tắc đường th;, hút mũi, nhỏ mũi bằng các thuốc làm giảm xung huyết niêm mạc và giảm tiết dịch mũi; Chăm sóc dinh dưỡng đầy đủ theo lứa tuổi; thở oxy nếu trẻ có suy hô hấp, trường hợp nặng hơn cần thở oxy dòng chảy cao qua ống thông mũi, CPAP, hoặc đặt nội khí quản và thở máy; điều trị kháng sinh khi có bằng chứng bội nhiễm các căn nguyên vi khuẩn.

 

Phòng bệnh:

Hiện chưa có vaccine phòng bệnh đặc hiệu;  những đối tượng có nguy cơ cao diễn biến bệnh nặng khi nhiễm RSV có thể tiêm dự phòng kháng thể đơn dòng mỗi tháng một lần vào mùa dịch giúp tăng cường miễn dịch chống lại virus RSV tốt hơn; tiêm chủng đầy đủ các mũi vaccine được khuyến cáo theo độ tuổi đặc biệt với trẻ nhỏ và đảm bảo chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt tốt để cơ thể mạnh khỏe một cách tự nhiên, phòng ngừa bệnh tật; áp dụng nguyên tắc 5K trong phòng lây các căn nguyên lây truyền theo đường hô hấp, trong đó có RSV.

 

Những điều cha mẹ, người chăm sóc trẻ cần lưu ý để hạn chế lây nhiễm RSV:

Hướng dẫn trẻ rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch trong ít nhất 20 giây, hoặc sử dụng nước sát khuẩn tay nhanh. Cha mẹ, người lớn cần rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và cho trẻ ăn, trước và sau khi chăm sóc trẻ bị ốm khác...; tránh chạm vào mắt, mũi và miệng bằng tay chưa rửa sạch; tránh tiếp xúc gần với người bệnh hoặc dùng chung cốc hoặc dụng cụ ăn uống với những người có các triệu chứng giống như cảm lạnh; che miệng và mũi khi ho và hắt hơi; làm sạch và khử trùng các bề mặt và đồ vật mà mọi người thường xuyên chạm vào như đồ chơi, tay nắm cửa và thiết bị di động..., khi trẻ bị bệnh nên cách ly và chăm sóc trẻ tại nhà để tránh lây nhiễm cho công cộng.

 

Khoa Sơ sinh - Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An


Quảng cáo
Thống kê truy cập
Người đang truy cập: 740
Tổng số lượt truy cập: 6215096